Thập đại đệ tử (zh. 十大弟子, bo. ཉན་ཐོས་ཉེ་འཁོར་བའུ་) là mười đệ tử quan trọng của Phật tổ Thích-ca Mâu-ni, hay được nhắc nhở trong kinh sách Đại thừa (sa. mahāyāna):
- Ma-ha-ca-diếp (zh. 摩訶迦葉, sa. mahākāśyapa, bo. འོད་སྲུང་ཆེན་པོ་): Đầu-đà (tu khổ hạnh) đệ nhất, được xem là Sơ tổ Thiền tông Ấn Độ; ông là người yêu cầu mở đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên của Phật giáo.
- A-nan-đà (zh. 阿難陀, sa. ānanda, bo. ཀུན་དགའ་བོ་): Đa văn đệ nhất, người “nghe và nhớ nhiều nhất”, được xem là Nhị tổ Thiền tông Ấn Độ. A-nan-đà hay được trình bày trong tranh tượng đứng bên cạnh Phật cùng với Ma-ha-ca-diếp; tuy là Đa văn đệ nhất nhưng sau khi Đức Phật Niết-bàn ông mới chứng quả A-la-hán rạng sáng ngày kết tập kinh điển đầu tiên.
- Xá-lợi-phất (zh. 舍利弗, sa. śāriputra, bo. ཤཱ་རིའི་བུ་): Trí huệ đệ nhất, đệ tử quan trọng nhất của Phật trong các kinh Tiểu thừa (sa. hīnayāna); trước khi xuất gia, ông là một luận sư nổi tiếng trong giáo đoàn Bà-la-môn.
- Tu-bồ-đề (zh. 須菩提, sa. subhūti, bo. རབ་འབྱོར་): Giải Không (sa. śūnyatā) đệ nhất. Tu-bồ-đề thường xuất hiện trong kinh điển hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa.
- Phú-lâu-na (zh. 富樓那, sa. pūrṇa, bo. གང་པོ་): Thuyết Pháp đệ nhất;
- Mục-kiền-liên (zh. 目犍連, sa. mahāmaudgalyāyana, bo. མོའུ་འགལ་གྱི་བུ་): Thần thông đệ nhất, hay đi đôi với Xá-lợi-phất; sau khi xuất gia được 7 ngày ông đã đoạn trừ hết các lậu hoặc, chứng quả A-la-hán (阿羅漢; sa. arhat, arhant; pi. arahat, arahant)
- Ca-chiên-chiên (zh. 迦旃延, sa. katyāyana, bo. ཀ་ཏྱའི་བུ་): Biện luận đệ nhất;
- A-na-luật (阿那律, sa. aniruddha, bo. མ་འགགས་པ་): Thiên nhãn đệ nhất;
Theo một số sách dịch nghĩa thì 10 vị đại đệ tử của nhà Phật được gọi tên như sau:
- Tôn giả Xá Lợi Phất: trí tuệ đệ nhất
- Tôn giả Mục Kiền Liên: thần thông đệ nhất
- Tôn giả Đại Ca Diếp: đầu đà đệ nhất
- Tôn giả Phú Lâu Na: thuyết Pháp đệ nhất
- Tôn giả Ca Chiên Diên: luận nghị đệ nhất
- Tôn giả Tu Bồ Đề: giải Không đệ nhất
- Tôn giả A Na Luật: thiên nhãn đệ nhất
- Tôn giả Ưu Ba Ly: trì luật đệ nhất
- Tôn giả La Hầu La: mật hạnh đệ nhất
- Tôn giả A Nan Đà: đa văn đệ nhất
Đây là 10 pho tượng gỗ hương, cao 2,2m do chúng tôi đã điêu khắc trong để cúng dường tại Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Đây cũng là những pho tượng mẫu để các chùa theo Thiền phái Trúc lâm điêu khắc theo.
Để đặt điêu khắc, xin vui lòng liên hệ: 092.44.77777 (Zalo) hoặc truy cập wwww.tuongphatgo.vn
Tôn giả Xá Lợi Phất
Chính tôn giả Xá Lợi Phất là người đã được Phật ủy thác trông coi công trình xây cất tu viện Kì-viên ở thủ đô Xá-vệ của vương quốc Kiều-tát-la. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về trí tuệ
Lúc đó, bước chân hoằng pháp của Phật chưa đặt đến nơi này nhưng nhờ vào trí tuệ siêu việt và biện tài vô ngại của mình mà Tôn giả đã thu phục biết bao nhiêu vị đạo sĩ ngoại đạo lỗi lạc. Đem họ về với Tam Bảo trước khi Phật và giáo đoàn đến đây mở đạo tràng tại tu viện Kì-viên.
Tôn giả Mục Kiền Liên
Ngoài sở trường về thần thông, Ngài còn nổi tiếng là bậc chí hiếu vì đã cứu được mẹ Ngài thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỉ. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về thần thông
Công tác hoằng hóa đặc sắc của Tôn giả là việc hóa độ cho thiếu phụ Liên Hoa Sắc. Từ một nàng kĩ nữ lừng danh trở thành một vị tì kheo ni gương mẫu, chứng quả A-la-hán và có thần thông số một trong hàng ni chúng. Cuối đời, Tôn giả đã bị ngoại đạo hành hung đến tử thương, việc xảy ra khoảng vài tháng trước khi tôn giả Xá Lợi Phất viên tịch.
Tôn giả Đại Ca Diếp
Ngài sống khắc khổ đến nỗi đức Phật cũng phải ái ngại, nhất là khi tuổi đã về già. Cho nên đã có vài lần Phật phải khuyên bảo nhưng ngài vẫn cương quyết giữ chí nguyện. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về tu khổ hạnh
Ngài đã được đức Thế Tôn truyền cho tâm pháp và sau khi đức Thế Tôn nhập diệt. Ngài đã kế thừa sự nghiệp, gánh vác trọng trách lãnh đạo giáo đoàn. Ngài thọ trên một trăm tuổi. Trước khi viên tịch, Ngài đã truyền tâm pháp cùng trọng trách lãnh đạo giáo hội lại cho Tôn giả A Nan.
Tôn giả Tu Bồ Đề
Trong hàng thánh chúng, chỉ có Tôn giả là có nhận thức sâu sắc về tính KHÔNG của vạn pháp. Vì Ngài đã hoàn toàn thấu triệt về đạo lí KHÔNG cũng như đã chứng nghiệm được tuệ giác KHÔNG. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về thông suốt tính không của thực tại vạn hữu.
Để chứng minh cho điều đó, đức Phật đã từng bảo tôn giả thay Ngài giảng thuyết về tính KHÔNG để cho đại chúng được bổ túc thêm kiến thức.
Tôn giả Ca Chiên Diên
Vốn thông minh bác học, chẳng bao lâu ngài chứng quả A-la-hán và trở thành một vị đệ tử thượng thủ của đức Phật. Ngài nổi danh là nhà hùng biện đại tài. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về tài hùng biện
Chính nhờ tài hùng biện này, Ngài đã thuyết phục và dìu dắt không biết bao nhiêu ngoại đạo trở về nương tựa ngôi Tam Bảo.
Tôn giả Phú Lâu Na
Tôn giả được nổi tiếng nhân lần đi giảng pháp ở tiểu quốc Du – na, một xứ biên địa mà ai nghe cũng sợ sệt vì đó là một nơi không có văn hóa, dân chúng man rợ, bạo ác. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về giảng pháp
Vậy mà Tôn giả đã tự nguyện đến đó giáo hóa và đã thành công rực rỡ, lập được đạo tràng, dạy dỗ cho dân chúng sống có văn hóa, tính tình thuần thiện, thờ phụng Tam Bảo. Không biết Tôn giả viên tịch vào lúc nào, chỉ biết rằng sau khi Phật nhập diệt, Tôn giả vẫn còn tiếp tục sứ mệnh độ sinh.
Tôn giả A Na Luật
Ngài tu học rất tinh tấn nhưng thường ngủ gục trong khi nghe Phật giảng pháp. Tương truyền, Ngài phải lập nguyện không ngủ và Ngài đã ngồi suốt ngày suốt đêm, hai mắt mở thao láo nhìn vào quãng không, không chớp mắt.
Cứ thế, ngày này qua ngày khác, Ngài cố gắng ngồi chịu đựng cho đến một hôm thì cặp mắt sưng vù và đôi mắt đã bị mù. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về mắt thấy vô ngại
Ngài triệt để tu tập theo phương pháp Phật dạy và chẳng bao lâu sau đó Ngài chứng thiên nhãn thông. Thấy suốt trong ngoài, khắp cùng ba cõi, không ai sánh bằng. Cho nên được đại chúng xưng tán là bậc thiên nhãn số một, trở thành một trong những vị đệ tử lớn của Phật.
Tôn giả Ưu Ba Li
Ngài quê ở thành Ca-tì-la-vệ, xuất thân từ giai cấp nô lệ, làm nghề thợ cạo, có hiếu với mẹ vô cùng. Dù ở giai cấp nô lệ, bị cấm học hành, nhưng hai mẹ con đều có tâm trí linh mẫn, thông minh khác thường. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về tinh tường và nghiêm trì giới luật
Do tính tình vốn vô cùng cẩn trọng, ngài đã hành trì giới luật thật nghiêm túc, trở thành vị tì kheo mẫu mực nhất tăng đoàn về phương diện giới luật.
Tôn giả A Nan
Trong tăng đoàn, Ngài là người đẹp trai và thông minh nhất, học một biết mười, nghe đâu nhớ đó, lại nhớ lâu, nhớ kĩ. Năm Phật được 55 tuổi đời thì Ngài được đại chúng đề cử làm thị giả thường xuyên cho Phật. Phật đi đâu, nói pháp gì, Ngài đều có mặt. Bởi vậy, Ngài cũng là người đã nghe được nhiều nhất trong tăng đoàn. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về nghe nhiều nhớ kĩ
Với nhiệm vụ thị giả, ngài đã hầu hạ, săn sóc đức Thế Tôn tận tâm tận lực, từ việc lớn đến việc nhỏ đều chu toàn trọn vẹn, không sơ suất, không lỗi lầm. Đối với mọi người thì ngài hết sức khiêm cung, lịch sự, hòa nhã, thân ái.
Tôn giả La Hầu La
Ngài theo Phật xuất gia lúc 10 tuổi, thờ tôn giả Xá Lợi Phất làm thầy y chỉ và trở thành vị sa di đầu tiên của tăng đoàn. Tôn giả đứng đầu thánh chúng về oai nghi tế hạnh
Đích thân đức Thế Tôn phải bao lần dạy dỗ nghiêm khắc rồi dần dần càng trưởng thành ngài càng nhận ra được lẽ thật, quyết tâm sửa đổi những lỗi lầm của tuổi trẻ. Ngài đã chọn chuyên tu mật hạnh, vì thế nếp sống của Ngài rất bình lặng, không có gì sôi nổi, không có tiếng tăm lừng lẫy.
- Ưu-ba-li (優波離, sa. upāli, bo. ཉེ་བར་འཁོར་): Giới luật đệ nhất;
- La-hầu-la (羅睺羅, sa. rāhula, bo. སྒྲ་གཅན་འཛིན་): Mật hạnh đệ nhất, ông cũng là người con duy nhất của Thái tử Tất-đạt-đa (sau này thành Phật tổ Thích-ca Mâu-ni)









Hãy sống với từng khoảnh khắc để mỗi bước chân, mỗi ánh mắt, mỗi hành động là một đóa sen thơm ngát dâng tặng cuộc đời, ngay nơi đó phiền não thành Bồ-đề, sanh tử thành Niết-bàn. Chỉ cần tâm niệm phân định sanh tử và giải thoát, chính ta nắm vận mệnh chính mình trong một khoảnh khắc