Đức Thánh Tăng có khác Đức Thánh Hiền?

Trong quá trình nghiên cứu các tôn tượng chùa Tịnh độ – miền Bắc, Phúc Minh nhận thấy có một số điểm cần tìm hiểu thêm về tên tượng chùa.

Cụ thể là tượng Đức Thánh Hiền là ngài A Nan, nhưng nhiều nơi gọi là Đức Thánh Tăng.

Đức Thánh Hiền là Tôn giả A Nan, còn Đức Thánh Tăng là Tôn giả Tân Đầu Lô. Một số nơi nhầm Đức Thánh Hiền là La Hán Kiều Trần Như hoặc Tân Đầu Lô, hay là các Tổ truyền đăng mở đầu Ca Diếp hoặc A Nan.

Trong khi đó:

Người xưa quan niệm hết sức rõ ràng những gì thuộc về Trời và Đất (ở dạng phi vật thể) như Thánh và Hiền, Quỷ và Thần, đó là cả thảy thuộc về Trời, và cả thảy thuộc về Đất.
Như sau: Thánh và Hiền có hai cấp. Quỷ và Thần có hai loại. Chúng ta cũng đều hiểu rằng cấp: Có khi là đồng dạng nhưng có thứ bậc. Còn loại, đích thị là dị biệt nhưng lại là số đông, và có thể là cùng một vòm, một vùng. Người ta cũng gọi bậc Thánh và bậc Hiền.

Vậy, cấp của bậc Thánh là gì? Đó là: Sinh nhi tri chi. Sinh ra đã biết. Và An nhi hành chi. Thong dong mà hành đạo, không phải cố gắng, không phải dụng công.

Còn cấp và bậc Hiền là gì? Đó là Học nhi tri chi: Học thì mới biết Lợi nhi hành chi: Hành động một cách mau lẹ.

Ngoài hai cấp của bậc Thánh và bậc Hiền, người phương Đông xưa cũng còn liệt kê thêm một cấp nữa. Cấp này không thể xếp là thứ ba, mà được biệt riêng ra để nhìn nhận cho thấu lý. Đó là: Khốn nhi tri chi: Phải vất vả khó khăn thì mới biết. Và: Miễn cưỡng nhi hành chi. Khi hành động phải nỗ lực cố gắng lắm mới có kết quả. Người xưa coi cấp này thuộc về số đông (nhân quần).

Đã là bậc Thánh khi cầm đến bút, thì trước tác đó là Kinh. Vậy Kinh là gì? Là đạo lý hằng thường bất biến làm nên điển phép cho muôn đời thì được gọi là Kinh.

Đến bậc Hiền, khi cầm đến bút thì trước tác là Truyện. Đến đây, chúng ta sẽ thấy cái công việc của nhà văn nhà thơ là thế nào?

Vì thế chỉ có sự nghiệp của các nhà văn, nhà thơ mới được gọi là thiên chức (cái sự nghiệp đó được cấu thành bằng tài năng; tài năng chứ không phải là khả năng). Và cái tài là thuộc thiên bẩm.

Bẩm nghĩa là trời phú cho. Vậy là trước tác của bậc Hiền là Truyện. Vậy Truyện là để giải thích phát huy, làm sáng tỏ ra ý nghĩa sâu sa của Kinh. Bởi vậy, từ đây có hai cặp chữ nữa mà người xưa hay dùng: Thánh – Kinh; Hiền – Truyện. Nhà bác học Chu Đôn Di (đời Tống) nói như sau: Sĩ hy Hiền; Hiền hy Thánh; Thánh hy Thiên (hy: nghĩa là sự mong). Kẻ sĩ mong sao đạt đến bậc Hiền. (người xưa thường nghĩ: Nhà văn là kẻ sĩ đấy. Nhưng nhà văn nhà thơ mà đạt được đến bậc Hiền thì hiếm). Người Hiền mong sao đạt được đến bậc Thánh nhân. Và, bậc Thánh thì sẽ hợp làm một thể với Trời. Vậy Thánh tức Thiên.

Người xưa luôn luôn nói đến chữ Tu, và thực hành Tu như hằng thường. Vậy Tu là gì? Và ra sao? Trước hết Tu theo tầng bậc. Đây cũng là một quy luật trong cái hằng thường.

Hãy xem xét đến Ngũ kinh. Đó là một hệ thống Đạo lý hằng thường mẫu mực. Bởi, trong con người ta ai cũng có tố chất Thánh. Và, Tính của con người là Bẩm thụ từ Trời và hoàn toàn là như nhau, không khác nhau. Nhưng có thể và đương nhiên là có những Bẩm thụ khác nhau (thời gian, nơi chốn) khi ấy sự khác nhau này mới chia ra: Thánh, Hiền, Ngu (dốt), Tri (trí tuệ) và sự chia khác này che lấp, thành ra Tính khác nhau.

Vậy, Tu là phục hồi lại cho Tính. Khi một người nào có trọn vẹn một cái Tính thì người ấy đạt bậc Thánh. Và quá trình Tu là một sự vươn lên tầng bậc. Ông Nhan Hồi đạt bậc Hiền và gần với Thánh, chỉ còn một tầng hoá nữa là thành Thánh. Tại sao người xưa chưa coi Nhan Hồi là bậc Thánh, vì người xưa thấy ông vẫn còn cái dụng công (cố gắng) vì thế ông chưa thể là Thánh được. Bao giờ ông hoá, mà vẫn thong dong thì bấy giờ người xưa mới cho ông là Thánh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *